Vị trí hiện tại: Trang chủ arrow Tuyển dụng
Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã tại Bang Quebec, Canada In E-mail
09/01/2012

TS. Nguyễn Minh Tú, Vụ trưởng Vụ Hợp tác xã, Bộ Kế hoạch Đầu tư

Võ Thị Kim Sa, Điều phối viên, Chương trình Socodevi 

Vào tháng 12 năm 2011 theo lời mời của Socodevi, TS. Nguyễn Minh Tú cùng các đại biểu của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và Uỷ ban Kinh tế Quốc hội có chuyến tham quan phong trào hợp tác xã tại Quebec, Canada. Chúng tôi trân trọng chia sẻ kết quả cuộc viếng thăm này cùng quý độc giả. 

 

kinh nghiem hop tac xa quebec canada

 

1.           Vài nét về vai trò, ví trí của hợp tác xã tại Bang Quebec

Với diện tích gần 10 triệu km2, Canada là quốc gia lớn thứ hai trên thế giới, sau Liên bang Nga. Liên bang Canada có mười bang và hai vùng lãnh thổ. Canada là quốc gia có nền dân chủ nghị viện và chế độ quân chủ lập hiến. Ớ cấp liên bang, ngôn ngữ chính là tiếng Anhtiếng Pháp. Canada là một trong các nước phát triển cao trên thế giới, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nền kinh tế đa dạng và thương mại phát triển. Canada là thành viên của các tổ chức G8, G20, NATO, OECD, WTO, Khối Thịnh vượng chung, Cộng đồng Pháp ngữ, OAS, APEC, và Liên Hợp Quốc.

Theo ước tính của Liên Minh Hợp tác xã Quốc tế cứ khoảng 4 người dân Canada thì có 1 người là xã viên. Vào năm 2008, dân số Canada khoảng 33,7 triệu người và có khoảng 10 triệu xã viên. Hiện Canada có khoảng 8.400 hợp tác xã và tổ chức hợp tác, tạo 165.000 việc làm và tổng tài sản khoảng 265 tỷ $ (CAD). Năm 2010, tổng doanh số của các hợp tác xã đạt khoảng 27 tỷ $ (CAD). Canada có hai tổ chức thành viên của Liên Minh hợp tác xã Quốc tế là Liên minh Hợp tác xã Canada (Canadian Cooperative Association) đại diện cho các hợp tác xã sử dụng Anh ngữ và Hội đồng Canada về hợp tác và tương hỗ (Conseil canadien de la coopération et de la mutualité) đại diện cho cộng đồng Pháp ngữ.

Để độc giả có bước tranh tổng thể để hình dung về phong trào hợp tác xã nói chung, hiện nay trên thế giới có khoảng 750.000 hợp tác xã và các tổ chức tương hỗ với khoảng 1 triệu xã viên (dân số hành tinh chúng ta đạt 7 tỷ người vào năm 2011), tạo việc làm cho trên 100 triệu người, tức nhiều hơn 20% so với các công ty đa quốc gia.

Bang Québec là bang lớn nhất của Canada với diện tích gần 1,5 triệu km² , rộng hơn lãnh thổ Việt Nam gấp 5 lần. Dân số bang Quebec khoảng 7,8 triệu người, trong đó 80% tập trung ở các trung tâm đô thị nằm dọc theo sông Saint-Laurent. Ngôn ngữ chính tại bang Quebec là tiếng Pháp. Ở Quebec hiện có 3.300 hợp tác xã và công ty bảo hiểm tương hỗ, chiếm khoảng 40% tổng số hợp tác xã ở Canada. Về số lượng xã viên, các hợp tác xã ở Quebec thu hút khoảng 8,8 triệu xã viên so với tổng số 10 triệu xã viên của Canada). 8,8 triệu xã viên trong 7,8 triệu dân đồng nghĩa là so một người dân tham gia nhiều hợp tác xã. Khu vực hợp tác xã tạo việc làm cho 92.000 ngàn lao động, có tổng tài sản 173 tỷ $ (CAD) và năm 2010 tạo được 25,6 tỷ $ (CAD).

Những hợp tác xã đầu tiên dưới hình thức tổ chức bảo hiểm tương hỗ được thành lập vào giữa thế kỷ XIX. Hợp tác xã tín dụng và tiết kiệm đầu tiên tại Quebec được Cha Desjardins thành lập vào năm 1900. Tiếp đó nhiều loại hình hợp tác xã khác lần lượt được ra đời, như hợp tác xã nông nghiệp (1910), hợp tác xã thực phẩm (1930),…

 

hop tac xa quebec

 

Hợp tác xã hợp thành một khu vực kinh tế (thành phần kinh tế) rất quan trọng của Canada bên cạnh khu vực tư nhân tư bản và khu vực công (nhà nước). Ba khu vực này gắn kết chặt chẽ với nhau. Khu vực kinh tế công tạo ra hàng hóa, dịch vụ công cộng quan trọng bảo đảm “cuộc sống cùng nhau” của nhân dân, cải thiện điều kiện sống cho mọi người dân. Khu vực kinh tế tư nhân tạo ra hàng hóa, dịch vụ với mục đích tối đa hóa lợi ích cá nhân, tối đa hóa lợi nhuận từ vốn tư bản tài chính. Khu vực kinh tế hợp tác xã tạo ra hàng hóa, dịch vụ chung với mục đích tạo phúc lợi cho các thành viên của mình phù hợp với mục tiêu chung của tổ chức hợp tác xã. Như vậy, khu vực hợp tác xã là một thể chế cùng đồng hành với kinh tế thị trường và kinh tế nhà nước, là khu vực thứ 3 không thể thiếu nhằm bảo đảm xã hội phát triển hài hòa, bền vững cả về kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị.

2.           Nội dung cốt lõi của Luật Hợp tác xã Quebec

Canada công nhận và đề cao 7 nguyên tắc hợp tác xã do Liên minh Hợp tác xã Quốc tế[1] (ICA) khuyến nghị, quán triệt đầy đủ và chuyển tải chúng vào Luật Hợp tác xã và cuộc sống. Luật Hợp tác xã khác biệt hẳn với Luật công ty, Luật về Hội, tạo môi trường pháp lý phù hợp để phát triển hợp tác xã đích thực, nhất quyết không phát triển hợp tác xã mang tính hình thức, màu mè, giả tạo. Trong khi đó có quốc gia có tới 35.000 hợp tác xã, nhưng chỉ có khoảng 5.000 hợp tác xã đích thực.

Luật Hợp tác xã luôn được xem xét và điều chỉnh để tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của hợp tác xã. Luật có những quy định chung, đồng thời có những quy định riêng cho từng loại hình hợp tác xã như: hợp tác xã của người sản xuất, hợp tác xã của người tiêu dùng, hợp tác xã của người lao động …. Luật Hợp tác xã xác định rõ chức năng địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của hợp tác xã, của liên đoàn hợp tác xã, của xã viên, thành viên, bảo đảm khung pháp luật cho xã viên, chứ không phải cho người làm luật hay các tổ chức khác; tuân thủ đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Vậy hợp tác xã là gì? Theo tư tưởng hợp tác xã và theo Luật Hợp tác xã của Bang, thì hợp tác xã là tổ chức của nhiều cá nhân (từ hai người trở lên, trong khi công ty có thể chỉ cần 01 người) thành lập nên nhằm đáp ứng nhu cầu chung về kinh tế, văn hóa, xã hội của mình. Để đáp ứng nhu cầu chung đó, hợp tác xã huy động vốn góp của xã viên và tiến hành hoạt động kinh doanh. Như vậy đối với hợp tác xã, nhu cầu chung của xã viên và mục tiêu đáp ứng nhu cầu chung là cái có trước, và việc huy động vốn (tức tài chính) là cái có sau, là phương tiện để hợp tác xã đạt mục tiêu. Với tôn chỉ đáp ứng nhu cầu chung của xã viên chứ không phải kinh doanh vốn, hợp tác xã là tổ chức đối nhân, chứ không phải đối vốn.

Những người soạn thảo luật Hợp tác xã nhấn mạnh, cần phải hiểu rõ bản sắc của tổ chức hợp tác xã, sự khác biệt của nó với công ty để chuyển tải vào các điều khoản của Luật Hợp tác xã. Hợp tác xã được thành lập để đáp ứng nhu cầu của xã viên, nên chắc chắn xã viên cần phải sử dụng dịch vụ của hợp tác xã. Mối quan hệ giữa xã viên với hợp tác xã rất đặc biệt: xã viên vừa là người chủ vừa là người sử dụng dịch vụ của hợp tác xã. Xã viên sử dụng dịch vụ của hợp tác xã là yếu tố quan trọng nhất để hợp tác xã tồn tại và phát triển: hợp tác xã xuất phát từ nhu cầu chung về dịch vụ và sử dụng dịch vụ của xã viên, hình thành hoạt động kinh doanh để đáp ứng nhu cầu chung này, tạo ra thặng dư để duy trì và mở rộng dịch vụ nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã viên hiện tại và tương lai.

Là tổ chức đối nhân, hợp tác xã quản lý theo nguyên tắc dân chủ, mỗi xã viên có một phiếu bầu như nhau và mức góp vốn bằng nhau. Xã viên có nghĩa vụ và có quyền tham gia quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến vận mệnh của hợp tác xã thông qua hình thức biểu quyết, tham gia họp, dự đại hội, kiểm soát hoạt động, tài chính của hợp tác xã.

Do áp dụng nguyên tắc mở đối với việc kết nạp xã viên, hàng năm hoặc sau một số năm hợp tác xã có thể định giá lại cổ phần thành viên (vốn góp khi tham gia hợp tác xã). Để bảo đảm sự phát triển ổn định và lâu dài, luật Hợp tác xã quy định các hợp tác xã phải lập quỹ dự trữ chung với mức tối thiểu bằng 20% thặng dư hàng năm của hợp tác xã. Quỹ dự trữ chung mang tính không chia, nhằm mục đích tái đầu tư, mở rộng dịch vụ cho xã viên và là di sản dành tặng cho thế hệ tương lai.

 

hop tac xac quebec ho tro

 

Thặng dư của hợp tác xã được hình thành từ chính việc xã viên sử dụng dịch vụ của hợp tác xã, nên hợp tác xã phân phối thặng dư cho xã viên trên cơ sở mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã. Đối với việc phân phối thặng dư theo mức độ sử dụng sử dụng dịch vụ, hợp tác xã có thể phân chia trực tiếp vào giá sản phẩm, dịch vụ giao dịch với xã viên. Thặng dư hàng năm sau khi trích lập tối thiểu 20% vào quỹ dự trữ chung, phần còn lại được phân phối lại cho xã viên theo cách thức sau: chia 25% ngay cho xã viên, 75% còn lại cũng thuộc sở hữu của xã viên nhưng để lại trong tài khoản của xã viên tại hợp tác xã. Hợp tác xã sử dụng khoản tài chính này cho hoạt động kinh doanh và xã viên sẽ rút ra sau 10 năm. Hợp tác xã cũng có quyền để lại 100% thặng dư tại hợp tác xã mà không chia cho thành viên (do Đại hội xã viên quyết định). Đây là hình thức huy động vốn đầu tư phát triển của hợp tác xã từ chính nội lực của các xã viên và làm lợi trở lại cho chính xã viên.

Hợp tác xã là tổ chức tự chủ, độc lập và quan tâm phát triển cộng đồng. Giáo dục, huấn luyện và thông tin cho xã viên và cộng đồng là điều kiện đảm bảo hợp tác xã phát triển bền vững. Chính phủ luôn kêu gọi tinh thần hợp tác, khuyến khích các hợp tác xã liên kết với nhau thành lập liên đoàn hay liên hiệp hợp tác xã.

Do tính chất kinh tế của hợp tác xã khác hẳn công ty như đã trình bày ở trên, nên chính phủ cần có chính sách hỗ trợ hợp tác xã. Trước khi gia nhập hợp tác xã, thành viên phải được tuyên truyền về tinh thần hợp tác và Luật hợp tác xã, nhằm giúp thành viên hiểu rõ bản sắc của hợp tác xã và sự khác biệt giữa hợp tác xã với công ty.

Về loại hình hợp tác xã, Luật Hợp tác xã Canada phân chia thành 5 loại hình như sau:

a.      Hợp tác xã của người tiêu dùng, tức hợp tác xã cung ứng các sản phẩm dịch vụ cho xã viên, ví dụ hợp tác xã bán hàng tiêu dùng, hợp tác xã trường học;

b.      Hợp tác xã của người sản xuất, tức hợp tác xã thu mua sản phẩm của xã viên, tiến hành chế biến, tiêu thụ ra thị trường, phát triển chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp; Xã viên là người sản xuất, sử dụng dịch vụ của hợp tác xã để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình;

c.      Hợp tác xã của người lao động, tức hợp tác xã mà xã viên đồng thời là người lao động trong hợp tác xã , ví dụ hợp tác xã trong lĩnh vực lâm nghiệp;

d.      Hợp tác xã của người lao động là cổ đông, tức hợp tác xã của những người làm thuê trong công ty, lập hợp tác xã để mua cổ phần của chính công ty đó; hiện có khoảng 60 hợp tác xã loại này tại Quebec;

e.      Hợp tác xã đoàn kết, tức hợp tác xã cung ứng đa dịch vụ phục vụ xã viên, ví hợp tác xã chăm sóc sức khỏe, hợp tác xã chăm sóc người cao tuổi.

Hai loại hình hợp tác xã cuối là mới phát triển trong những năm gần đây.

3.           Quản lý nhà nước về hợp tác xã và chính sách hỗ trợ hợp tác xã

Cục Hợp tác xã thuộc Bộ Phát triển kinh tế, Đổi mới và Xuất nhập khẩu bang Quebec là cơ quan thống nhất duy nhất quản lý tất cả hợp tác xã phi tài chính trong bang. Cụ thể là:

-  Có trách nhiệm quản lý hành chính đối với Luật Hợp tác xã, rà soát, sửa đổi Luật Hợp tác xã trình Chính phủ để kiến nghị Quốc hội Bang sửa đổi bổ sung nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã phát triển lành mạnh.

-  Ban hành các văn bản hướng dẫn liên quan, phối hợp với các Bộ khác bảo đảm Luật Hợp tác xã không mâu thuẫn với các luật khác và tạo điều kiện để mọi người đều có thể hiểu được bản chất tổ chức hợp tác xã. Mặc dù không có chức năng quản lý nhà nước về hợp tác xã, nhưng chính quyền địa phương chăm lo chung môi trường phát triển doanh nghiệp nói chung, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã phát triển.

-  Thực hiện đăng kí trực tiếp thành lập hợp tác xã (phi tài chính), tiếp nhận báo cáo hàng năm và theo dõi hoạt động của các hợp tác xã đã đăng kí; xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về hợp tác xã vừa phục vụ công tác quản lý nhà nước, nhất là đổi mới chính sách đối với hợp tác xã, vừa cung cấp thông tin trở lại đối với hợp tác xã, cho công tác giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học, viện nghiên cứu.

-  Nghiên cứu và tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã trong sự phối hợp với các chương trình, chính sách hỗ trợ có liên quan, chú trọng tuyên truyền quản bá về văn hóa hợp tác xã, cam kết sử dụng mọi nguồn lực hỗ trợ phát triển hợp tác xã. Chính sách hỗ trợ hợp tác xã có đặc điểm là: hỗ trợ trực tiếp; dựa vào kết quả và được tiến hành bởi các tổ chức chuyên nghiệp.

-  Tổ chức đào tạo, thông tin về Luật hợp tác xã, quản lý hợp tác xã, hiệp hội hợp tác xã; Bảo đảm tất cả mọi người, mọi tổ chức hiểu rõ và thực thi thống nhất Luật Hợp tác xã.

-  Là đầu mối liên kết với các cơ quan, tổ chức có liên quan về hợp tác xã, bảo đảm thông tin hai chiều trôi chảy, hiểu và hành động thống nhất, phát triển quan hệ đối tác (partnership), phát triển quan hệ quốc tế về hợp tác xã.

Cục Hợp tác xã tham gia vào nhiều tổ chức như Ủy ban phát triển bền vững hợp tác xã, Ủy ban phát triển doanh nghiệp Quebec, những tổ chức tư vấn cho chính phủ Quebec về chính sách, phương hướng phát triển hợp tác xã.

Bang Quebec có đạo luật riêng về hỗ trợ hợp tác xã và các tổ chức phi lợi nhuận, bao gồm trợ giúp tài chính sau đây: bảo lãnh chi trả một phần hoặc toàn bộ các cam kết tài chính; bảo lãnh toàn bộ hoặc mua lại một phần cổ phần ưu đãi; cho vay có hoặc không có lãi suất; miễn một phần chi trả khoản vay; v.v. Các ưu đãi, hỗ trợ này được Chính phủ thực hiện trực tiếp đối với hợp tác xã. Chính phủ còn giảm thuế cho hợp tác xã.

4.           Tổ chức Hội của hợp tác xã

Được thành lập năm 1940, Hội đồng Quebec về hợp tác và tương trợ (CQCM) là tổ chức tự nguyện của tất cả hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên minh hợp tác xã vùng, liên minh hợp tác xã bang. Hội đồng có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội của Bang thông qua việc khai thác tiềm năng của phong trào hợp tác xã và tổ chức tương hỗ theo các nguyên tắc và giá trị hợp tác xã do Liên minh Hợp tác xã Quốc tế đề xướng. Sứ mệnh của Hội đồng là thiết lập và duy trì mối quan hệ hợp tác giữa hợp tác xã với các đối tác, đại diện và bảo vệ về mặt tổng thể quyền lợi của phong trào hợp tác xã và tổ chức tương hỗ tại Quebec và thúc đẩy phát triển hợp tác xã nhằm mục tiêu đa dạng hóa các tác động về mặt lợi ích của việc hợp tác đối với các thành viên của mình và đối với công chúng.

CQCM đặt ra hai nhiệm vụ đối nội trọng tâm là phải tiếp tục duy trì, làm rõ bản sắc tổ chức hợp tác xã và gắn kết nội bộ hợp tác xã chặt chẽ hơn nữa.

 

hop tac xa quebec picture

 

CQCM đề ra nhiệm vụ chủ yếu thúc đẩy phát triển phong trào hợp tác xã nhằm đáp ứng 3 vấn đề xã hội mang tính cấp bách hiện tại là (i) đáp ứng những thay đổi về dân số học do dân số của Quebec đang già đi khá nhanh, (ii) phát triển bền vững; (iii) phân bố lại dân cư hợp lý hơn, phát triển nông thôn.

Dân số già đi kéo theo hệ quả số người trong độ tuổi lao động sẽ giảm đi, nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng lên. Vì vậy, phong trào hợp tác xã cần thu hút sự quan tâm và giáo dục lớp trẻ quan tâm giúp đỡ người già và thúc đẩy phát triển hợp tác xã trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm tương hỗ.

Phát triển bền vững đặt ra yêu cầu phát triển bền vững cho hợp tác xã, đồng thời định hướng hợp tác xã hoạt động tích cực trong các lĩnh vực liên quan phát triển bền vững, như sản xuất và sử dụng năng lượng xanh, năng lượng sinh học, năng lượng tái sinh, v.v.

Cùng với quá trình phát triển, dân số có xu hướng rời bỏ nông thôn vào thành thị. Do vậy, hợp tác xã phải hướng phát triển mạnh về nông thôn, mở rộng hoạt động ở nông thôn, góp phần duy trì phân bố dân cư hợp lý.

Bên cạnh CQCM, còn có Hội đồng Canada về hợp tác và tương hỗ (CCCM). Được thành lập năm 1946, CCCM là cơ quan pháp ngôn và đại diện chính thức cho các hợp tác xã khối Pháp ngữ tại Canada, là thành viên của ICA. Định hướng trong tương lai là sáp nhập hai tổ chức này để gia tăng thêm sức mạnh hợp tác.

 

5.           Một số hợp tác xã

5.1.       Agropur

Agropur là hợp tác xã nông nghiệp, được thành lập vào ngày 24 tháng 8 năm 1938 với 86 thành viên sáng lập là nông dân chăn nuôi bò sữa. Lúc bấy giờ, mỗi cổ phần xã viên có giá trị 50$ CAD. Agropur được thành lập vào bối cảnh khủng hoảng kinh tế, sản xuất nông nghiệp hết sức khó khăn, chi phí ngũ cốc tăng cao, thu nhập nông dân giảm sút. Những người nông dân đã thành lập hợp tác xã để cung ứng dịch vụ cho chính mình. Trong quá trình phát triển, cùng với việc cung ứng đầu vào phục vụ cho việc chăn nuôi của xã viên, Agropur tập trung chức năng thu mua sữa và chế biến sản phẩm sữa.

Vào năm 1940, số xã viên tăng lên 109 người, sau đó là 3.812 người (năm 1960), 8.135 người (năm 1980). Nhằm giảm thiếu việc sản xuất nhiều hơn nhu cầu tiêu dùng, chính phủ Canada đã áp dụng chế độ hạn ngạch (quota) đối với nông dân nuôi bò sữa. Điều này làm cho số lượng xã viên của Agropur giảm xuống còn 4.891người (năm 2000) và 3.615 người (năm 2008) và 3.459 xã viên (năm 2010). Tuy số lượng xã viên giảm, nhưng số lượng bò sữa và sản lượng sữa liên tục gia tăng. Năm 2010, hợp tác xã thu mua bình quân 514.300 lít sữa/1 xã viên, doanh thu đạt 3,3 tỷ $ CAD, chế biến trên 3 tỷ lít sữa. Agropur có 27 nhà máy chế biến sản phẩm sữa tại Canada, Mỹ, Achentina với số lao động làm thuê 5.441 người.

Agropur là hợp tác xã chế biến sữa lớn nhất Canada trong số 8 hợp tác xã cùng ngành nghề, đứng thứ 3 trong số hợp tác xã phi tài chính. Hợp tác xã Agropur có 5 công ty trực thuộc. Để bảo đảm tư cách xã viên, mỗi xã viên mua cổ phần xã viên. Ngoài ra, thành viên có thể mua cổ phần đầu tư (cổ phiếu ưu đãi) của hợp tác xã. Mỗi xã viên có một phiếu bầu như nhau. Hàng năm, xã viên được chia từ phần thặng dư (lãi) của hợp tác xã theo mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã, trong đó 25% được chia ngay bằng tiền mặt, 75% còn lại được để lại trong hợp tác xã dưới hình thức cổ phần đầu tư. Nguồn để lại này là rất lớn, bảo đảm hợp tác xã có đủ vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh của mình, đạt 506,5 triệu $ CAD năm 2010 (vốn góp thành viên đạt 348 ngàn $ CAD, cổ phần đầu tư của thành viên đạt 735 ngàn $ CAD).

5.2.       La Coop

La Coop là liên đoàn hợp tác xã nông nghiệp, hiện có 106 hợp tác xã thành viên tại các bang Quebec, Ontario, Maritimes với 95.000 xã viên (trong đó 62.000 xã viên chính thức, 33.000 xã viên liên kết). Mỗi hợp tác xã thành viên được bầu chọn một số lượng đại biểu tham gia vào ban lãnh đạo liên đoàn (từ 1-15 người/hợp tác xã) tùy theo mức độ giao dịch giữa hợp tác xã thành viên với liên đoàn, với nhiệm kỳ 3 năm. Hiện ban lãnh đạo Liên đoàn La Coop có 329 đại biểu và mỗi đại biểu có một phiếu bầu như nhau. Ban lãnh dạo liên đoàn bầu cử Hội đồng Quản trị với 15 thành viên.

Được thành lập năm 1922 trên cơ sở hợp nhất 3 liên đoàn hợp tác xã nông nghiệp, ngày nay La Coop là tổ chức kinh doanh nông nghiệp lớn nhất Quebec. Hiện nay, Liên đoàn tổ chức 2 dịch vụ cho hợp tác xã thành viên (i) thu mua gia súc, giá cầm của hợp tác xã thành viên, tiến hành giết mổ, chế biến và tiêu thụ và (ii) cung ứng nông cụ và nguyên liệu vật tư đầu vào cho sản xuất chăn nuôi của các hợp tác xã thành viên, mà thực chất là của các xã viên/nông dân của các hợp tác xã thành viên. Năm 2010, doanh thu từ dịch vụ thu mua và chế biến nông sản đạt 4,1 tỷ $ CAD với 6.273 lao động làm thuê, doanh thu dịch vụ cung ứng đầu vào cho xã viên đạt 2,2 tỷ $ CAD với 9.106 người lao động làm thuê. Tất cả nông dân và hợp tác xã nông nghiệp ở Quebec là thành viên của La Coop. Với chủ trương gia tăng quy mô, hơn 1.000 hợp tác xã nông nghiệp (năm 1992) ở Quebec tiến hành hợp nhất và sáp nhập với nhàu và hiện chỉ còn 600 hợp tác xã. Số lượng nông trại cũng giảm đi nhờ quá trình sáp nhập hoặc hợp nhất hoặc chuyển nhượng.

Liên đoàn được phép giao dịch với không phải thành viên, nhưng tỷ lệ giao dịch không được vượt quá 50% tổng giao dịch để giữ bản chất hợp tác xã. Trong khi đó hợp tác xã chỉ được giao dịch với xã viên, không được phép giao dịch với không phải xã viên. Về nguyên tắc, chỉ liên đoàn hợp tác xã nông nghiệp được chia tài sản khi giải thể, nhưng đến nay chưa có trường hợp giải thể nào. Về nguyên tắc, Liên đoàn hợp tác xã phải cạnh tranh bình đẳng, không có chính sách khác biệt nào so với công ty, không có sự ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước.

5.3.       Liên đoàn hợp tác xã trường học (COOPSCO)

Các hợp tác xã trường học tại Quebec được thành lập từ năm 1940, trong các trường đại học, sau trung học và trung học. Học sinh, sinh viên, giáo viên và nhân viên trong các trường học tham gia với tư cách xã viên, những người vừa là chủ sở hữu vừa là người sử dụng dịch vụ của hợp tác xã. Theo quy định học sinh, sinh viên từ 14 tuổi trở lên được gia nhập hợp tác xã, nếu dưới 14 tuổi thì cha mẹ thay mặt tham gia. Hiện các hợp tác xã trường học thu hút tới 80% học sinh, sinh viên nói tiếng Pháp tại Quebec tham gia hợp tác xã. Hiện có 5 trong 6 trường đại học ở Quebec có hợp tác xã.

Hợp tác xã có chức năng cung ứng dịch vụ văn phòng phẩm và các dịch vụ liên quan trong trường học như: thư viện, văn phòng phẩm, thực phẩm/căng tin, tin học, in ấn, sao chụp, ký túc xá, bãi xe…Hợp tác xã được điều hành như một doanh nghiệp, có quản trị, kế toán, kĩ thuật viên chuyên nghiệp.

Cổ phần thành viên có trị giá là 15 $ CAD. Hợp tác xã thuê mặt bằng, cơ sở vật chất và tự đầu tư để kinh doanh. Lợi ích mà xã viên nhận được từ hợp tác xã là được sử dụng dịch vụ của hợp tác xã với giá rẻ hơn và được cử đại diện tham gia đại hội xã viên hàng năm để quyết định chiến lược kinh doanh của hợp tác xã.

Về nguyên tắc, khi xã viên ra khỏi hợp tác xã (sinh viên tốt nghiệp ra trường) thì xã viên được nhận lại cổ phần thành viên. Tuy nhiên, trong thực tế có hơn 95% sinh viên không nhận lại khoảng tiền này mà họ để lại cho hợp tác xã hoạt động nhằm phục vụ nhu cầu của sinh viên (đàn em) tốt hơn. Hơn nữa, họ đã được lợi nhiều trong quá trình sử dụng dịch vụ của hợp tác xã. Khi hợp tác xã giải thể, nếu còn tài sản thì không chia cho xã viên mà chuyển giao cho liên đoàn hoặc chính quyền.

Hợp tác xã có thể kết nạp xã viên liên kết không phải là học sinh, sinh viên, giáo viên của trường. Xã viên liên kết được sử dụng dịch vụ của hợp tác xã, nhưng không có quyền biểu quyết trong đại hội xã viên.

Liên đoàn hợp tác xã trường học được thành lập từ năm 1983, cung ứng dịch vụ cho hợp tác xã thành viên. Liên đoàn có sứ mệnh phát triển hợp tác xã lâu dài trong trường học, là đại diện và bảo vệ quyền lợi chung cho thành viên. Hiện tại Liên đoàn hợp tác xã trường học có 60 hợp tác xã thành viên với 400.000 xã viên hoạt động trong 90 trường. Liên đoàn hợp tác xã trường học cung ứng dịch vụ chung cho các hợp tác xã thành viên, trước hết là dịch vụ tư vấn. Liên đoàn hợp tác xã trường học có hơn 100 điểm kinh doanh, 2 nhà xuất bản và 1.500 người lao động. Doanh thu năm 2010 đạt gần 120 triệu $ CAD, tổng tài sản 2,3 triệu $ CAD, thặng dư đạt 104.000 $ CAD (trong khi đó doanh thu của các hợp tác xã thành viên đạt 120,6 triệu $ CAD, tổng tài sản là 19 triệu $ CAD và thặng dư đạt 754.000 $ CAD).

5.4.       Hợp tác xã phát triển vùng và liên đoàn hợp tác xã phát triển vùng

Được thành lập từ năm 1984, hợp tác xã phát triển vùng là hợp tác xã của các hợp tác xã tại một vùng, có sứ mệnh thúc đẩy phát triển hợp tác xã, cung cấp dịch vụ tăng cường năng lực cho hợp tác xã như: cung ứng nhân lực, tư vấn tài chính, đào tạo, huấn luyện, trợ giúp các hợp tác xã liên kết, hợp tác lẫn nhau, phối hợp với Cục Hợp tác xã thực hiện chính sách hỗ trợ hợp tác xã. Ở Quebec hiện có 11 hợp tác xã phát triển vùng (tổng số có 17 vùng), thu hút hơn 1.200 hợp tác xã thành viên. Trung bình mỗi năm các hợp tác xã phát triển vùng góp phần thành lập mới 120 hợp tác xã. Trong 5 năm qua, nhờ hoạt động của các hợp tác xã phát triển vùng, tại Quebec có khoảng 600 hợp tác xã mới thành lập trên nhiều lĩnh vực và tạo ra 2.000 việc làm. Hoạt động của hợp tác xã phát triển vùng dựa vào nhu cầu của hợp tác xã thành viên. Thành viên đóng góp hay chi trả phí khi sử dụng dịch vụ. Doanh thu năm 2010 là 6,2 triệu $ CAD. Về cơ cấu tài chính của hợp tác xã phát triển vùng, có 5% là đóng góp của thành viên, 25% là tự tài trợ của hợp tác xã và 70% là hỗ trợ của Chính phủ. Thặng dư của hợp tác xã phát triển vùng không chia cho thành viên mà để lại cho hợp tác xã mở rộng hoạt động.

Cả 11 hợp tác xã phát triển vùng hợp tác với nhau thành lập Liên đoàn hợp tác xã phát triển vùng nhằm hỗ trợ các hợp tác xã phát triển vùng, mà xét cho cùng là các hợp tác xã thành viên. Liên đoàn hợp tác xã phát triển vùng điều phối và phát triển mạng lưới hợp tác xã trong vùng trong việc chia sẻ nguồn lực và dịch vụ, đại diện cho các hợp tác xã phát triển vùng ở tầm quốc gia.

5.5.       Tập đoàn tài chính Desjardins

Người khởi nguyên thành lập hợp tác xã tín dụng – tiết kiệm đầu tiên tại Quebec là Cha Desjardins vào năm 1900. Đến ngày nay, tập đoàn Desjardins đứng thứ 6 trong hệ thống ngân hàng của Canada và đứng thứ 112 trong hệ thống ngân hàng thế giới. Giá trị tài sản của tập đoàn đạt 256 tỷ $ CAD vào năm 2010, thu hút 11 triệu thành viên. Ngoài ra, tập đoàn có 5 công ty: an toàn tài chính hệ thống; bảo hiểm; chứng khoán; quản lý tài sản; đầu tư mạo hiểm.

Tập đoàn tài chính Desjardins là một ngân hàng được tổ chức dựa trên nguyên tắc hợp tác xã, hợp thành từ 877 hợp tác xã tín dụng cơ sở. Trong số đó, 54% số hợp tác xã hoạt động theo Luật hợp tác xã của bang, gồm 451 hợp tác xã ở bang Quebec và bang Ontario, 26 chi nhánh hợp tác xã hoạt động ở bang New-Brunswick và bang Manitoba, hợp thành mạng lưới liên bang gồm 2 tầng: hợp tác xã cơ sở và liên đoàn. 46% hoạt động theo Luật Hợp tác xã của bang và Luật Hợp tác xã liên bang, gồm: 386 liên hiệp tín dụng (CU) ở cấp quốc gia, 14 CU độc lập, được cơ cấu theo nguyên tắc phân tán theo 3 tầng: cơ sở, bang, và liên bang.

5.6.       Tập đoàn tài chính SSQ

SSQ là tập đoàn bảo hiểm tương hỗ được tổ chức theo nguyên tắc hợp tác xã, tức thành viên lập ra để hỗ trợ nhau thông qua việc cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho chính mình với phí bảo hiểm rẻ, tin cậy. SSQ được thành lập vào năm 1944 do bác sĩ Jacques Tremblay sáng lập giúp người dân nghèo khám chữa bệnh. Lúc đầu có 11 thành viên, 3 bác sĩ, mỗi thành viên đóng góp phí 5 $ CAD/năm và phí hàng tháng đối với mỗi gia đình là 2,6 $CAD. Ngày nay (năm 2011), SSQ có gần 1 triệu thành viên, có 1.600 người làm thuê, doanh số bảo hiểm nhân thọ và sức khỏe 1,4 tỷ $ CAD, bảo hiểm đầu tư và hưu trí 749,5 triệu $ CAD, bảo hiểm tài sản và thương tật 180 triệu $ CAD.

6.           Một số tổ chức hỗ trợ phát triển hợp tác xã

6.1.       Socodevi

Vào năm 1985 với niềm tin rằng hợp tác sẽ tạo ra sự thay đổi tốt đẹp hơn, các hợp tác xã và tổ chức tương hỗ tại bang Quebec đã thành lập nên Socodevi, một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận nhằm hỗ trợ phong trào hợp tác xã quốc tế. Hiện có 23 hợp tác xã và tổ chức tương hỗ là tổ chức thành viên của Socodevi với doanh thu 16 tỷ $ CAD và 31.000 lao động làm thuê.

Socodevi xây dựng cho mình sứ mệnh là tuyên truyền, tư vấn, chuyển giao công nghệ liên quan tới thúc đẩy phát triển hợp tác xã trên thế giới, nhằm tạo ra các hợp tác xã đích thực, bền vững thông qua cung cấp các dịch vụ hỗ trợ thành lập, củng cố, phát triển hợp tác xã và tổ chức tương hỗ. Tôn chỉ của Socodevi là tạo lập mạng lưới hợp tác xã và tổ chức tương hỗ để cùng hợp tác, thịnh vượng và chia sẻ, vì hợp tác chính là đòn bẩy phát triển kinh tế- xã hội.

Trong 25 năm (1985 – 2010) đồng hành cùng 634 tổ chức đối tác tại châu Mỹ, châu Á, châu Phi, châu Âu, Socodevi đã thực hiện 378 chương trình, dự án với tổng kinh phí hơn 200 triệu $ Canada, tương đương 78 năm làm việc tình nguyện. Kinh phí hoạt động hỗ trợ quốc tế, ngoài đóng góp của các thành viên, Socodevi còn được Chính phủ Canada hỗ trợ thông qua CIDA. Socodevi đã nhiều năm hỗ trợ và cam kết tiếp tục hỗ trợ phát triển phong trào hợp tác xã Việt Nam trong thời gian tới. Mục đích tối thượng của Socodevi là cải thiện điều kiện sống, tạo lập, duy trì sự thịnh vượng về vật chất và tinh thần cho những cộng đồng mà Socodevi hỗ trợ.

6.2.       Viện nghiên cứu hợp tác xã và tổ chức tương hỗ (IRCUS)

IRCUS được thành lập năm 1967 dưới hình thức bộ môn, sau đó được thành lập chính thức vào năm 1976, có sứ mệnh hiện thực hóa và làm rõ bản sắc hợp tác xã về các mặt quản lý và phát triển các tổ chức này thông qua đào tạo và nghiên cứu về hợp tác xã và tổ chức tương hỗ. Cơ sở vật chất, chi phí hoạt động, đào tạo do Chính phủ tài trợ. Hiện Viện có 15 nhân sự, đào tạo thạc sĩ mỗi năm một lớp cho khoảng 25 sinh viên. Ngoài ra, Viện được hỗ trợ từ phong trào hợp tác xã để tiến hành nghiên cứu về hợp tác xã; mở các lớp đào tạo thạc sĩ tại chức cho các thành viên hợp tác xã, các lớp đào tạo, huấn luyện ngắn hạn về quản lý hợp tác xã trên cơ sở thu phí. Viện đã phát triển hoạt động hỗ trợ phong trào hợp tác quốc tế thông qua đào tạo, nghiên cứu về hợp tác xã chủ yếu ở khối nói tiếng Pháp ở Châu âu và Châu Mỹ La tinh.



[1] ICA được thành lập năm 1895, hiện có 241 tổ chức thành viên của 90 nước

 
< Trước   Tiếp >
 

 
19 queries executed
1
SET sql_mode = 'MYSQL40'
2 SELECT folder, element, published, params FROM jos_mambots WHERE published >= 1 AND access <= 0 AND folder = 'system' ORDER BY ordering
3 SELECT template FROM jos_templates_menu WHERE client_id = 0 AND ( menuid = 0 OR menuid = 15 ) ORDER BY menuid DESC LIMIT 1
4 DELETE FROM jos_session WHERE ( ( time < '1582916760' ) AND guest = 0 AND gid > 0 ) OR ( ( time < '1582916760' ) AND guest = 1 AND userid = 0 )
5 SELECT * FROM jos_menu WHERE id = 15
6 SELECT a.*, u.name AS author, u.usertype, cc.name AS category, s.name AS section, g.name AS groups, s.published AS sec_pub, cc.published AS cat_pub, s.access AS sec_access, cc.access AS cat_access, s.id AS sec_id, cc.id as cat_id FROM jos_content AS a LEFT JOIN jos_categories AS cc ON cc.id = a.catid LEFT JOIN jos_sections AS s ON s.id = cc.section AND s.scope = 'content' LEFT JOIN jos_users AS u ON u.id = a.created_by LEFT JOIN jos_groups AS g ON a.access = g.id WHERE a.id = 64 AND ( a.state = 1 OR a.state = -1 ) AND ( a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_up <= '2020-02-28 19:21' ) AND ( a.publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_down >= '2020-02-28 19:21' ) AND a.access <= 0
7 SELECT a.id FROM jos_content AS a WHERE a.catid = 6 AND a.state = 1 AND a.access <= 0 AND ( a.state = 1 OR a.state = -1 ) AND ( a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_up <= '2020-02-28 19:21' ) AND ( a.publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_down >= '2020-02-28 19:21' ) ORDER BY a.ordering
8 UPDATE jos_content SET hits = ( hits + 1 ) WHERE id = '64'
9 SELECT folder, element, published, params FROM jos_mambots WHERE access <= 0 AND folder = 'content' ORDER BY ordering
10 SELECT m.* FROM jos_menu AS m WHERE menutype='mainmenu' AND published='1' AND access <= '0' ORDER BY parent,ordering
11 SELECT id, title, module, position, content, showtitle, params FROM jos_modules AS m INNER JOIN jos_modules_menu AS mm ON mm.moduleid = m.id WHERE m.published = 1 AND m.access <= 0 AND m.client_id != 1 AND ( mm.menuid = 0 OR mm.menuid = 15 ) ORDER BY ordering
12 SELECT a.* FROM jos_components AS a WHERE ( a.admin_menu_link = 'option=com_syndicate' OR a.admin_menu_link = 'option=com_syndicate&hidemainmenu=1' ) AND a.option = 'com_syndicate'
13 SELECT id FROM jos_menu WHERE link = 'index.php?option=com_search' AND published = 1
14 SELECT id, name, link, parent, type, menutype, access FROM jos_menu WHERE published = 1 AND access <= 0 ORDER BY menutype, parent, ordering
15 SELECT * FROM jos_banner WHERE showBanner=1
16 SELECT m.* FROM jos_menu AS m WHERE menutype = 'mainmenu' AND published = 1 AND access <= 0 ORDER BY parent, ordering
17 SELECT a.id, a.introtext, a.fulltext , a.images, a.attribs, a.title, a.state FROM jos_content AS a INNER JOIN jos_categories AS cc ON cc.id = a.catid INNER JOIN jos_sections AS s ON s.id = a.sectionid WHERE a.state = 1 AND a.access <= 0 AND cc.access <= 0 AND s.access <= 0 AND (a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_up <= '2020-02-28 19:21' ) AND (a.publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_down >= '2020-02-28 19:21' ) AND a.catid = 6 AND cc.published = 1 AND s.published = 1 ORDER BY a.ordering LIMIT 3
18 SELECT m.* FROM jos_menu AS m WHERE menutype = 'othermenu' AND published = 1 AND access <= 0 ORDER BY parent, ordering
19 SELECT m.* FROM jos_menu AS m WHERE menutype = 'topmenu' AND published = 1 AND access <= 0 AND parent = 0 ORDER BY ordering